Ai trong chúng ta mà chưa từng nghe câu tục ngữ “Chạy trời không khỏi nắng“? Câu này nghe qua thì giống như một lời nhắn nhủ nhẹ nhàng về sự thật không thể tránh khỏi trong cuộc sống, nhưng khi áp dụng vào pháp luật, nó lại mang một ý nghĩa sâu sắc và… đôi chút “đau lòng”!

Nói cho vuông: Dù bạn có khôn ngoan đến đâu, tìm mọi ngóc ngách lách luật như thế nào, thì sớm muộn gì cũng sẽ dính chưởng. Trong bài viết này, chúng ta sẽ xem thử một tình huống “đau thương” của nhân vật A – người nghĩ mình là siêu nhân lách luật, nhưng kết cục lại không may mắn lắm.
> Xem thêm: TOP 10 CÔNG TY, VĂN PHÒNG LUẬT SƯ GIỎI VÀ UY TÍN TẠI THỪA THIÊN HUẾ
1. Tình huống giả định về câu tục ngữ “Chạy trời không khỏi nắng”
Anh A – một người đầy “tài năng” trong việc lách thuế, cứ nghĩ mình thông minh hơn cả cái hệ thống pháp luật to bự. Suốt mấy năm trời, anh lập hàng loạt công ty ma, làm vài trò ảo thuật kế toán, và cứ thế mà tiền chảy vào túi mà chẳng mất đồng thuế nào. A cứ nghĩ rằng “Mình ngon, mình thoát!”. Nhưng trời đâu có chiều lòng người, cuối cùng cơ quan chức năng xuất hiện như trong phim hành động, truy lùng mọi bằng chứng và “chốt hạ” A với một đống tội danh.
- Phân tích tình huống pháp luật: Vâng, câu chuyện của A là minh chứng cho việc “chạy trời không khỏi nắng”. A có thể lách luật hôm nay, nhưng không thể lách mãi. Luật pháp như mặt trời, bạn có thể trốn trong bóng râm tạm thời, nhưng khi mặt trời di chuyển, “nắng” lại rọi thẳng vào bạn!

- Lỗ hổng pháp luật không phải là cái hố vĩnh viễn: A có thể nghĩ rằng mình đã tìm ra cách “qua mặt” hệ thống pháp luật, nhưng đừng quên, luật pháp cũng giống như mưa nắng thất thường – có lúc hở ra vài giọt, nhưng sớm muộn cũng vá lại hết.
> Xem thêm: 7 ĐIỀU CẦN LƯU Ý KHI THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP NĂM 2024
2. Các hành vi được xem là trốn thuế
Theo khoản 1 Điều 17, Nghị định 125/2020/NĐ-CP, các hành vi vi phạm liên quan đến việc trốn thuế và gian lận thuế bao gồm:
“a) Không nộp hồ sơ đăng ký thuế; không nộp hồ sơ khai thuế hoặc nộp hồ sơ khai thuế sau 90 ngày, kể từ ngày hết thời hạn nộp hồ sơ khai thuế hoặc kể từ ngày hết thời hạn gia hạn nộp hồ sơ khai thuế, trừ trường hợp quy định tại điểm b, c khoản 4 và khoản 5 Điều 13 Nghị định này;
b) Không ghi chép trong sổ kế toán các khoản thu liên quan đến việc xác định số tiền thuế phải nộp, không khai, khai sai dẫn đến thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được hoàn, được miễn, giảm thuế, trừ hành vi quy định tại Điều 16 Nghị định này;
c) Không lập hoá đơn khi bán hàng hoá, dịch vụ, trừ trường hợp người nộp thuế đã khai thuế đối với giá trị hàng hóa, dịch vụ đã bán, đã cung ứng vào kỳ tính thuế tương ứng; lập hóa đơn bán hàng hóa, dịch vụ sai về số lượng, giá trị hàng hóa, dịch vụ để khai thuế thấp hơn thực tế và bị phát hiện sau thời hạn nộp hồ sơ khai thuế;
d) Sử dụng hoá đơn không hợp pháp; sử dụng không hợp pháp hoá đơn để khai thuế làm giảm số thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được hoàn, số tiền thuế được miễn, giảm;
đ) Sử dụng chứng từ không hợp pháp; sử dụng không hợp pháp chứng từ; sử dụng chứng từ, tài liệu không phản ánh đúng bản chất giao dịch hoặc giá trị giao dịch thực tế để xác định sai số tiền thuế phải nộp, số tiền thuế được miễn, giảm, số tiền thuế được hoàn; lập thủ tục, hồ sơ hủy vật tư, hàng hoá không đúng thực tế làm giảm số thuế phải nộp hoặc làm tăng số thuế được hoàn, được miễn, giảm;
e) Sử dụng hàng hoá thuộc đối tượng không chịu thuế, miễn thuế, xét miễn thuế không đúng mục đích quy định mà không khai báo việc chuyển đổi mục đích sử dụng, khai thuế với cơ quan thuế;
g) Người nộp thuế có hoạt động kinh doanh trong thời gian xin ngừng, tạm ngừng hoạt động kinh doanh nhưng không thông báo với cơ quan thuế, trừ trường hợp quy định tại điểm b khoản 4 Điều 10 Nghị định này.”
A đã cố tình tạo ra các công ty ma và thực hiện các hành vi gian lận kế toán để trốn thuế, và đây là hành vi vi phạm nghiêm trọng. Luật này không chỉ quy định rõ hành vi trốn thuế mà còn có các biện pháp xử lý như truy thu thuế, phạt tiền và xử lý hình sự nếu cần thiết.
3. Mức phạt đối với hành vi trốn thuế
3.1. Mức phạt hành chính đối với hành vi trốn thuế
Căn cứ theo Điều 12 của Nghị định 125/2020/NĐ-CP, các hành vi trốn thuế được quy định cụ thể về mức độ xử phạt như sau:
“1. Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.500.000 đồng đối với hành vi khai sai, khai không đầy đủ các chỉ tiêu trong hồ sơ thuế nhưng không liên quan đến xác định nghĩa vụ thuế, trừ hành vi quy định tại khoản 2 Điều này.
2. Phạt tiền từ 1.500.000 đồng đến 2.500.000 đồng đối với hành vi khai sai, khai không đầy đủ các chỉ tiêu trên tờ khai thuế, các phụ lục kèm theo tờ khai thuế nhưng không liên quan đến xác định nghĩa vụ thuế.
3. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:
a) Khai sai, khai không đầy đủ các chỉ tiêu liên quan đến xác định nghĩa vụ thuế trong hồ sơ thuế;
b) Hành vi quy định tại khoản 3 Điều 16; khoản 7 Điều 17 Nghị định này.”

- Các biện pháp khắc phục hậu quả:
- Yêu cầu thực hiện việc khai báo lại và bổ sung các tài liệu liên quan trong hồ sơ thuế đối với những hành vi vi phạm được nêu tại khoản 1, khoản 2, và điểm a khoản 3 của điều này.
- Bắt buộc điều chỉnh lại các khoản lỗ, cũng như số thuế giá trị gia tăng đầu vào được khấu trừ để chuyển sang kỳ sau (nếu có) đối với các hành vi vi phạm được quy định tại khoản 3 của điều này.
3.2. Trách nhiệm hình sự đối với hành vi trốn thuế
Căn cứ theo quy định tại Điều 200 Bộ luật Hình sự 2015 và khoản 47 Điều 1 Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ Luật hình sự 2017, mức xử phạt đối với tội trốn thuế như sau:
- Đối với cá nhân:
“1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây trốn thuế với số tiền từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng hoặc dưới 100.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trốn thuế hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 188, 189, 190, 191, 192, 193, 194, 195, 196, 202, 250, 251, 253, 254, 304, 305, 306, 309 và 311 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm:
a) Không nộp hồ sơ đăng ký thuế; không nộp hồ sơ khai thuế; nộp hồ sơ khai thuế sau 90 ngày kể từ ngày hết hạn nộp hồ sơ khai thuế hoặc hết thời hạn gia hạn nộp hồ sơ khai thuế theo quy định của pháp luật;
b) Không ghi chép trong sổ kế toán các khoản thu liên quan đến việc xác định số tiền thuế phải nộp;
c) Không xuất hóa đơn khi bán hàng hóa, dịch vụ hoặc ghi giá trị trên hóa đơn bán hàng thấp hơn giá trị thanh toán thực tế của hàng hóa, dịch vụ đã bán;
d) Sử dụng hóa đơn, chứng từ không hợp pháp để hạch toán hàng hóa, nguyên liệu đầu vào trong hoạt động phát sinh nghĩa vụ thuế làm giảm số tiền thuế phải nộp hoặc làm tăng số tiền thuế được miễn, số tiền thuế được giảm hoặc tăng số tiền thuế được khấu trừ, số tiền thuế được hoàn;
đ) Sử dụng chứng từ, tài liệu không hợp pháp khác để xác định sai số tiền thuế phải nộp, số tiền thuế được hoàn;
e) Khai sai với thực tế hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu mà không khai bổ sung hồ sơ khai thuế sau khi hàng hóa đã được thông quan, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 188 và Điều 189 của Bộ luật này;
g) Cố ý không kê khai hoặc khai sai về thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 188 và Điều 189 của Bộ luật này;
h) Câu kết với người gửi hàng để nhập khẩu hàng hóa, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 188 và Điều 189 của Bộ luật này;
i) Sử dụng hàng hóa thuộc đối tượng không chịu thuế, miễn thuế, xét miễn thuế không đúng mục đích quy định mà không khai báo việc chuyển đổi mục đích sử dụng với cơ quan quản lý thuế.”
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 500.000.000 đồng đến 1.500.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 03 năm:
a) Có tổ chức;
b) Số tiền trốn thuế từ 300.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng;
c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
d) Phạm tội 02 lần trở lên;
đ) Tái phạm nguy hiểm.
3. Phạm tội trốn thuế với số tiền 1.000.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tiền từ 1.500.000.000 đồng đến 4.500.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
- Đối với pháp nhân thương mại
“5. Pháp nhân thương mại phạm tội quy định tại Điều này, thì bị phạt như sau:
a) Thực hiện một trong các hành vi quy định tại khoản 1 Điều này trốn thuế với số tiền từ 200.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng hoặc từ 100.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trốn thuế hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 188, 189, 190, 191, 192, 193, 194, 195 và 196 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 300.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng;
b) Phạm tội thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, d và đ khoản 2 Điều này, thì bị phạt tiền từ 1.000.000.000 đồng đến 3.000.000.000 đồng;
c) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này, thì bị phạt tiền từ 3.000.000.000 đồng đến 10.000.000.000 đồng hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 06 tháng đến 03 năm;
d) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại Điều 79 của Bộ luật này, thì bị đình chỉ hoạt động vĩnh viễn;
đ) Pháp nhân thương mại còn có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm.”
Anh A nghĩ rằng mình có thể chạy trốn trách nhiệm pháp lý, nhưng kết quả lại là một bài học xương máu: “chạy trời không khỏi nắng”. Đối với pháp luật, không ai có thể chạy thoát mãi mãi. Dù bạn có giỏi đến mấy, cuối cùng cũng bị “dính nắng”. Thế nên, thay vì cố gắng lách luật, tại sao không sống đúng pháp luật, vừa an toàn lại chẳng sợ nắng mưa?
THÔNG TIN LIÊN HỆ:
Địa chỉ: CM4-01 KĐT EcoGarden, P. Thuỷ Vân, TP. Huế
Số điện thoại: 023 4366 7779 & 0943 957 779
Email: info@vnj-law.com
Website: vnj-law.com
Fanpage: Luật Quốc Tế VNJ
